Dự phòng phải trả dựa trên số ước tính đáng tin cậy, ghi nhận nghĩa vụ nợ như 1 ước tính kế toán. Nó chưa chắc chắn về giá trị hoặc thời gian trả tiền.



1 . Phân biệt dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng.


Tất cả các khoản dự phòng phải trả đều là nợ tiềm tàng vì chúng không được xác định một cách chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. Tuy nhiên, trong các khoản nợ tiềm tàng có những khoản ko thoả mãn điều kiện để ghi nhận một khoản nợ phải trả bình thường và không có cơ sở đáng tin cậy để ước tính. Đấy là khoản nợ tiềm tàng.


VAS 18 “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng” phân biệt rõ những khoản dự phòng phải trả với các khoản nợ tiềm tàng cụ thể như sau:


+ Những khoản dự phòng phải trả là những khoản đã được ghi nhận là nợ phải trả vì nó có nghĩa vụ về nợ phải trả ngày nay và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để trả tiền các nghĩa vụ về khoản nợ phải trả đó. Và do giả định đưa ra 1 ước tính tin cậy nên các khoản dự phòng cần phải được xem xét và điều chỉnh lại vào mỗi kỳ kế toán lập Bảng cân đối kế toán để phản ảnh toàn bộ và hợp lý nghĩa vụ nhận nợ của Tổ chức.


+ Các khoản nợ tiềm tàng là các khoản ko được ghi nhận là những khoản nợ phải trả thường ngày . Vì các khoản nợ thường xảy ra còn khoản nợ tiềm tàng thì chưa chắc chắnxảy ra. Những khoản nợ tiềm tàng thường xảy ra không theo dự định ban đầu vì thế chúng phải được ước tính thường xuyên để xác định xem liệu sự giảm sút kinh tế có xảy ra hay không.

Kế toán không liệt kê thông tin về khoản nợ tiềm tàng vào Bảng cân đối kế toán vì ko ghi nhận là nợ phải trả. Nhưng phải công bố trong Thuyết minh BCTC nhằm giúp người sử dụng thông tin tài chính đưa ra nhận sâu sắc hơn về tình hình nguồn vốn của Doanh nghiệp.


2 . Phân biệt dự phòng phải trả với các khoản dự phòng khác



Để hiểu rõ hơn về bản tính của các khoản dự phòng làm cơ sở cho việc ghi nhận và mô tả thông tin trên BCTC, cần phân biệt dự phòng phải trả và dự phòng khác như dự phòng giảm giá trị tài sản và quỹ dự phòng tài chính.


+ Dự phòng giảm giá trị tài sản (như dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng khuyến mãi hàng tồn kho, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính): được phân loại là khoản điều chỉnh giảm tài sản, nhằm phản ánh trị giá tài sản, ko vượt quá trị giá thuần có thể thực hiện; và được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ với mức tối đa là giá gốc tài sản.


+ Dự phòng phải trả (như dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, dự phòng tái cơ cấu Doanh nghiệp,…) được phân loại là nợ phải trả, nhằm phản ánh tất cả nghĩa vụ nợ của Cty tại ngày lập BCTC, và ghi nhận vào chi phí trong kỳ với mức ước tính đáng tin cậy.


+ Quỹ dự phòng nguồn vốn: được phân loại là vốn chủ sở hữu, nhằm tạo nguồn dự trữ tài chính cho Tổ chức, và được trích lập từ lợi nhuận kế toán sau thuế TNDN.

mong rằng bài viết trên giúp các bạn phân biệt rõ ràng được dự phòng phải trả với những khoản khác trong Tổ chức.